Giáo dụcLớp 8

Bộ 5 đề thi giữa HK1 môn có đáp án năm 2021-2022 Trường THCS Đinh Bộ Lĩnh

Quà Yêu Thương xin giới thiệu đến các em Bộ 5 đề thi giữa HK1 môn Ngữ văn 8 của trường THCS Đinh Bộ Lĩnh có đáp án chi tiết năm 2021-2022. Hi vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích cho các em tham khảo và chuẩn bị tốt cho kì thi sắp tới. Chúc các em có một kì thi thật tốt!

TRƯỜNG THCS ĐINH BỘ LĨNH

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1

MÔN: NGỮ VĂN 8

NĂM HỌC: 2021-2022

(Thời gian làm bài: 90 phút)

 

ĐỀ SỐ 1

PHẦN I (4,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu: 

Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi . . . toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.

(Trích Lão Hạc, Nam Cao)

Câu 1: Đoạn văn trên là suy nghĩ của nhân vật nào trong truyện Lão Hạc của Nam Cao? Suy nghĩ ấy được diễn ra trong hoàn cảnh nào?

Câu 2: Tìm các từ cùng trường từ vựng trong đoạn văn trên và đặt tên cho các trường từ vựng ấy?

Câu 3: Tìm thán từ trong đoạn văn trên và cho biết tác dụng của thán từ ấy?

Câu 4: Trình bày suy nghĩ của em sau khi đọc những câu văn: Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…

PHẦN II (6,0 điểm)

Câu 1: Đọc câu chuyện sau và nêu suy nghĩ của em bằng một đoạn văn khoảng 7 đến 10 câu:

Có người cha mắc bệnh rất nặng. ông gọi hai người con trai đến bên giường và ân cần nhắc nhở: “Sau khi cha mất, hai con cần phải chia tài sản một cách thỏa đáng, đừng vì chuyện đó mà cãi cọ nhau”. Hai anh em hứa sẽ làm theo lời cha. Khi cha qua đời, họ phân chia tài sản làm đôi. Nhưng sau đó, người anh cho rằng người em chia không công bằng và cuộc tranh cãi nổ ra. 

Một người già thấy thế đã dạy họ cách chia công bằng nhất là đem tất cả tài sản ra cưa đôi thành hai phần bằng nhau. Hai anh em đã đồng ý làm theo cách đó. Kết cục tài sản đã được chia công bằng tuyệt đối nhưng đó chỉ là đống đồ bỏ đi.

Câu 2: Chọn một trong hai đề sau:

Đề 1: Kể về một kỷ niệm sâu sắc nhất của em. 

Đề 2: “Bà cụ cầm tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế”. (Trích Cô bé bán diêm, An-đéc-xen)

Hãy đóng vai em bé bán diêm để kể lại câu chuyện em đã được gặp bà và được sống ở trên thiên đường.

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

PHẦN I (4,0 điểm)

Câu 1: 

– Đoạn văn trên là suy nghĩ của nhân vật ông giáo.

– Suy nghĩ ấy được diễn ra trong hoàn cảnh khi vợ ông giáo tỏ thái độ không ưa lão Hạc, không muốn giúp đỡ lão.

Câu 2: 

– Bản tính xấu của con người: gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… 

– Tâm trạng: lo lắng, buồn đau,…

Câu 3: Thán từ: Chao ôi → Bộc lộ cảm xúc đớn đau của ông giáo khi suy nghĩ về sự đời.

Câu 4: 

* Hình thức: Trình bày sạch đẹp, đúng ngữ pháp, có câu mở đoạn, phần thân đoạn và câu kết đoạn.

* Nội dung: Học sinh có thể nêu cảm nghĩ theo gợi ý sau: 

– “Chao ôi”: thể hiện nỗi buồn đau, cay đắng của ông giáo trước hiện tượng con người bị tha hóa. 

– Những người (như vợ ông giáo) khi nhìn những người khác (như lão Hạc) chỉ thấy toàn những điều xấu xa, từ đó dẫn đến thái độ tàn nhẫn “không bao giờ thương”.

– Nguyên nhân dẫn đến cái nhìn tàn nhẫn ấy là vì những người như vợ ông giáo khổ quá, “Cái bản tính tốt đẹp của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỷ che lấp mất”.

– Tuy nhiên vẫn có những người như ông giáo, dù khổ nhưng có tấm lòng nhân ái “cố tìm mà hiểu” nên vẫn thấy vẻ đẹp ẩn sâu trong lớp vỏ xấu xí bên ngoài: lão Hạc gàn dở nhưng cao thượng, vợ ông giáo tuy tàn nhẫn với người khác nhưng lại rất thương con.

—(Để xem tiếp đáp án những câu còn lại vui lòng xem tại online hoặc đăng nhập để tải về máy)—

 

ĐỀ SỐ 2

Câu 1: Viết một đoạn văn ngắn từ 8 đến 10 câu nêu cảm nghĩ của em về cái chết của nhân vật cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn An-đéc-xen? (3,0 điểm)

Câu 2: Qua đoạn trích Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri, có thể nói nhân vật Cụ Bơ-men là một nghệ sĩ vĩ đại không? Vì sao? (7,0 điểm)

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

Câu 1:

* Hình thức (0,5 điểm): Trình bày sạch đẹp, đúng ngữ pháp, có câu mở đoạn, phần thân đoạn và câu kết đoạn, viết đúng từ 8 đến 10 câu. 

* Nội dung (2,5 điểm): Học sinh có thể nêu cảm nghĩ theo gợi ý sau: 

– Cô bé chết vì đói và lạnh. Đây là một cái chết không đáng có, một cái chết hết sức đáng thương của một em bé bất hạnh. 

– Em bé chết nhưng đôi má vẫn hồng và đôi môi như đang mĩm cười là hình ảnh thật đẹp. Dường như em không chết mà đi vào cõi bất tử, nơi có tình yêu thương bao la của bà. 

– Hình ảnh em bé chết rét ngoài đường phố, trong đêm giao thừa đã gợi lên bao xót xa trong lòng người đọc.

– Thái độ của học sinh: thương xót, đồng cảm, có trách nhiệm với cuộc sống đáng thương của cô bé.

—(Nội dung đầy đủ của Đề thi số 2 vui lòng xem tại online hoặc đăng nhập để tải về máy)—

 

ĐỀ SỐ 3

Câu 1: Hãy tóm tắt văn bản Cô bé bán diêm khoảng 10 dòng. (3,0 điểm)

Câu 2: Em hãy cho biết nguyên nhân cái chết của Lão Hạc? Nêu ý nghĩa của cái chết ấy? (3,0 điểm)

Câu 3: Cho câu chủ đề: Chị Dậu đại diện cho người phụ nữ nông dân, vừa giàu tình yêu thương, vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ. 

Từ câu chủ đề trên, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 đến 12 dòng) theo kiểu quy nạp. (4,0 điểm)

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3

Câu 1:

– Tóm tắt văn bản cô bé bán diêm với các sự việc diễn ra:

+ Giới thiệu hoàn cảnh cô bé.

+ Năm lần quẹt diêm gắn với từng mộng tưởng.

+ Cái chết của cô bé.

Câu 2:

– Nguyên nhân cái chết của Lão Hạc: 

+ Tình cảnh đói khổ, túng quẫn đã đẩy Lão Hạc đến cái chết như một hành động tự giải thoát.

+ Lão Hạc chọn lấy cái chết để bảo toàn căn nhà và mảnh vườn cho con, không muốn gây phiền hà cho hàng xóm, láng giềng.

– Ý nghĩa của cái chết:

+ Phản ánh chân thực và sâu sắc về số phận bi thảm của người nông dân trước cách mạng, ca ngợi phẩm giá cao đẹp của người lao động.

+ Phê phán tố cáo xã hội phi nhân đạo, tàn ác.

—(Đáp án chi tiết vui lòng xem tại online hoặc đăng nhập để tải về máy)—

 

ĐỀ SỐ 4

PHẦN I. TRẮC NGHIỆM (3,0 điểm)

Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:

Đọc đoạn văn rồi trả lời các câu hỏi số 1, 2, 3: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…” 

Câu 1: Từ chao ôi trong đoạn văn trên thuộc từ loại gì?

A. Tình thái từ 

B. Trợ từ

C. Quan hệ từ 

D. Thán từ

Câu 2: Các từ “gàn dở, bần tiện, ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi” thuộc trường từ vựng nào?

A. Chỉ trình độ con người 

B. Chỉ tính cách con người

C. Chỉ thái độ con người 

D. Chỉ hình dáng con người

Câu 3: Đoạn văn được trích trong văn bản nào?

A. Trong lòng mẹ 

B. Tôi đi học

C. Lão Hạc 

D. Tức nước vỡ bờ

Câu 4: Văn bản nào sau đây là văn bản nhật dụng?

A. Thông tin về ngày trái đất năm 2000

B. Chiếc lá cuối cùng

C. Cô bé bán diêm

D. Cả ba đáp án đều đúng

Câu 5: Việc đưa yếu tố miêu tả vào văn bản tự sự có tác dụng gì?

A. Trình bày diễn biến của sự việc, hành động, nhân vật.

B. Bày tỏ thái độ, cảm xúc của người viết trước sự việc, nhân vật, hành động.

C. Làm nổi bật tính chất, mức độ của sự việc, nhân vật, hành động. 

D. Giới thiệu nhân vật, sự việc, cốt truyện, tình huống.

Câu 6: Trong các từ sau, từ nào là từ tượng hình?

A. Âu yếm 

B. Tưng bừng

C. Rụt rè 

D. Rộn rã

PHẦN II. TỰ LUẬN (7,0 điểm)

Câu 1: Viết một đoạn văn diễn dịch (từ 7 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về tác hại của việc sử dụng bao bì nilon. (2,0 điểm)

Câu 2: Kể lại câu chuyện về một người bạn vượt khó, vươn lên trong học tập (5,0 điểm)

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

PHẦN I. TRẮC NGHIỆM (3,0 điểm)

Học sinh khoanh tròn chữ cái đứng trước mỗi câu trả lời đúng được 0,5 điểm. 

Câu 1:

Câu 2:

Câu 3:

Câu 4:

Câu 5:

Câu 6:

PHẦN II. TỰ LUẬN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm) 

* Hình thức (0,5 điểm): Trình bày sạch đẹp, đúng ngữ pháp, có câu mở đoạn, phần thân đoạn và câu kết đoạn, viết đúng từ 7 đến 10 câu theo kiểu diễn dịch.

* Nội dung (2,5 điểm): Học sinh có thể trình bày theo gợi ý sau: 

– Thực trạng: Lượng rác thải chủ yếu ra môi trường hiện nay chính là bao ni lông.

– Nguyên nhân: 

+ Do sự tiện lợi của bao ni lông.

+ Chưa có phương pháp thay thế hiệu quả nhất cho bao bì ni lông.

+ Do thói quen của người sử dụng.

– Hậu quả:

+ Bao ni lông mất nhiều năm để có thể phân hủy hết nên trước hết nó gây ô nhiễm môi trường, việc chôn bao ni lông xuống đất gây ảnh hưởng và xói mòn độ phì nhiêu của đất khiến đất bạc màu và cằn cỗi.

+ Việc đốt hoặc xử lí bao ni lông dù bằng bất kì cách nào cũng gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường, ảnh hưởng đến những thế hệ sau này.

– Giải pháp: Đề xuất nhiều phát minh các biện pháp thay thế túi ni lông, mở rộng những mô hình có ích này để người dân biết đến nhiều hơn.

—(Để xem tiếp đáp án phần Tự luận vui lòng xem tại online hoặc đăng nhập để tải về máy)—

 

ĐỀ SỐ 5

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)

Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.

(Ngữ văn 8, tập một)

Câu 1: Đoạn văn trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? (1,0 điểm)

Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn văn? (1,0 điểm)

Câu 3: Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ “các bộ phận của cơ thể con người” có trong đoạn văn trên? (1,0 điểm)

Câu 4: Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng phối kết hợp các phương thức biểu đạt nào? Cho biết tác dụng của chúng? (1,0 điểm)

PHẦN II. TỰ LUẬN (6,0 điểm)

Kể về một việc em đã làm khiến bố mẹ rất vui lòng.

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 5

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1: 

– Đoạn văn trên trích từ văn bản Trong lòng mẹ (Trích Những ngày thơ ấu). (0,5 điểm)

– Tác giả: Nguyên Hồng. (0,5 điểm)

Câu 2: Nội dung chính là cảm giác sướng cực điểm của bé Hồng khi gặp lại mẹ. (1,0 điểm)

Câu 3: Các từ thuộc trường từ vựng chỉ “các bộ phận của cơ thể con người”: mặt, mắt, da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, miệng. (1,0 điểm)

Câu 4: 

– Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng phối kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sư + miêu tả + biểu cảm. (0,5 điểm)

– Tác dụng: Góp phần làm cho đoạn văn kể chuyện thêm sinh động, sâu sắc, giàu cảm xúc. (1,0 điểm)

PHẦN II. TỰ LUẬN (6,0 điểm)

a. Mở bài: (1,0 điểm) Giới thiệu về việc em đã làm khiến bố mẹ rất vui lòng.

b. Thân bài: (3,0 điểm)

– Hoàn cảnh xảy ra sự việc.

– Kể lại diễn biến sự việc theo một trình tự thời gian, không gian nhất định. Có sự việc khởi đầu, sự việc cao trào, đỉnh điểm, kết thúc. (Chú ý kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm)

– Thái độ của bố mẹ qua việc làm của em.

—(Nội dung đầy đủ của Đề thi số 5 vui lòng xem tại online hoặc đăng nhập để tải về máy)—

 

Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 5 đề thi giữa HK1 môn Ngữ văn 8 năm 2021-2022 Trường THCS Đinh Bộ Lĩnh. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

Đăng bởi: Quà Yêu Thương

Chuyên mục: Lớp 8

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button