Giáo dụcLớp 6

Soạn bài Thực hành Tiếng Việt (Bài 5) tóm tắt – Chân trời sáng tạo lớp 6

Kiến thức Tiếng Việt rất cần thiết khi giao tiếp trong cuộc sống và trong học tập môn Ngữ văn. Nắm bắt được điều đó, Quà Yêu Thương xin gửi đến các em bài soạn Thực hành Tiếng Việt (Bài 5) tóm tắt – Chân trời sáng tạo Ngữ văn 6 nhằm giúp các em hiểu hơn về biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ trong một văn bản cụ thể. Mời các em cùng tham khảo nhé!

– Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Các loại ẩn dụ:

+ Ẩn dụ hình thức.

+ Ẩn dụ cách thức.

+ Ẩn dụ phẩm chất.

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

– Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Các loại hoán dụ:

+ Phép hoán dụ lấy cái bộ phận chỉ cái toàn thể. 

+ Phép hoán dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng.

+ Phép hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật.

+ Phép hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

2. Hướng dẫn soạn bài Thực hành Tiếng Việt (Bài 5)

Câu 1. Tìm một câu có sử dụng biện pháp so sánh và một câu sử dụng biện pháp ẩn dụ trong “Lao xao ngày hè”. Chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa hai biện pháp tu từ này.

Gợi ý:

– Câu văn có phép so sánh: Con diều hâu lao như mũi tên xuống.

– Câu văn có phép ẩn dụ: Lần này nó chửa kịp ăn,những mũi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu bay tới. “Những mũi tên đen” là hình ảnh ẩn dụ.

– Biện pháp so sánh và ẩn dụ có đặc điểm:

+ Giống nhau:

  • Các sự việc, hiện tượng có nét tương đồng với nhau.
  • Đều có vế B (Sự vật dùng để so sánh, tăng sức gợi hình, gợi cảm.

+ Khác nhau:

  • Biện pháp So sánh có 2 vế A, B đầy đủ.
  • Ẩn dụ: Ẩn đi vế A, chỉ còn vế B. Cách nói này có tính hàm súc cao hơn, gợi ra nhiều liên tưởng…

Câu 2. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi ở dưới:

Người ta nói chèo bẻo là kẻ cắp. Kẻ cắp hôm nay gặp bà già! Nhưng từ đây tôi lại quý chèo bẻo. Ngày mùa, chúng thức suốt đêm. Mới tờ mờ đất nó đã cất tiếng gọi người: “Chè cheo chét”… Chúng nó trị kẻ ác. Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm!

a. Chỉ ra biện pháp ẩn dụ trong đoạn văn.

b. Nêu nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh ngầm với nhau và tác dụng của biện pháp này trong việc miêu tả loài vật.

Gợi ý:

a. Biện pháp ẩn dụ trong đoạn văn:

– Bà già, kẻ ác: để chỉ lũ diều hâu.

– Người có tội: để chỉ chèo bẻo

b. Nét tương đồng

– Kẻ ác: để chỉ diều hâu bởi nó là con vật hung dữ, thường bắt gà con.

– Bà già: để chỉ diều hâu, ý nói đây là đối thủ đáng gờm của chèo bẻo.

– Người có tội để chỉ chèo bẻo, ý muốn nói chèo bẻo cũng là loài vật khá hung dữ, thích ăn thịt các loài côn trùng.

=> Tác dụng của phép ẩn dụ: làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, khiến cho thế giới các loài chim hiện lên sinh động.

Câu 3. Hãy xác định biện pháp tu từ trong các câu văn dưới đây và cho biết dựa vào đâu để xác định như vậy:

a. Cả làng xóm hình như (…) cùng thức với giời, với đất.

b. Sau nhà có hai đõ ong “say” lắm.

c. Thời đó đường Bờ Sông chỉ trải đá, chưa tráng nhựa, chiều hè gió ngoài sông thổi vào, bụi mù, thành phố phải dùng những xe bò kéo chở nước đi tưới.

d. Mùa đông, tôi không ra đường chơi được thì ở nhà đọc truyện Tàu cho cả nhà trong (…), nhà ngoài (…) nghe, hết một cuốn thì cầm hai xu chạy vù lại hiệu Cát Thành đầu phố hàng Gai đổi cuốn khác.

Gợi ý:

Phép hoán dụ, dựa vào nội dung câu có thể xác định như sau:

a. cả làng xóm (lấy vật chứa để gợi vật được chứa)

b. đõ ong (lấy vật chứa để gợi vật được chứa)

c. thành phố (lấy vật chứa để gợi vật được chứa)

d. nhà trong, nhà ngoài (lấy vật chứa để gợi vật được chứa)

Câu 4. Theo em, cụm từ “mắt xanh” trong câu thơ: “Trầu ơi, hãy tỉnh lại/Mở mắt xanh ra nào” gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh quen thuộc nào? “Mắt xanh” trong trường hợp này có phải là ẩn dụ không? Dựa vào đâu để nói như vậy?

Gợi ý:

– “Mắt xanh” gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh chiếc lá trầu, trong trường hợp này đây là phép ẩn dụ vì giữa mắt xanh và lá trầu có sự giống nhau về hình dáng, màu sắc.

Câu 5. Hãy dẫn ra một câu văn sử dụng biện pháp ẩn dụ hoặc hoán dụ trong Lao xao ngày hè hoặc Thương nhớ bầy ong mà em cho là thú vị và chia sẻ với mọi người.

Gợi ý:

Em có thể chọn một hình ảnh, tham khảo các đáp án sau:

– Lao xao ngày hè:

+ Ẩn dụ: “Lần này nó chửa kịp ăn, những mũi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu bay tới.”

=> Những mũi tên đen nhằm muốn nói tới những chú chèo bẻo. Hình ảnh đó gợi ra cho người đọc hình dung về chú chim chèo bẻo lao nhanh xuống để kịp cứu gà con đang bị diều hâu tha đi.

+ Hoán dụ: “Cả làng xóm hình như không ai ngủ, cùng thức với giời, với đất.”

=> Cả làng xóm là biện pháp hoán dụ lấy vật chứa để gợi vật được chứa đựng.

Câu 6. Hãy chỉ ra biện pháp tu từ trong các dòng thơ dưới đây và cho biết những dấu hiệu nào giúp em nhận ra biện pháp nghệ thuật ấy?

Đã ngủ rồi hả trầu?

Tao đã đi ngủ đâu.

Mà trầu mày đã ngủ.

Gợi ý:

– Biện pháp tu từ: nhân hóa.

– Dấu hiệu:

  • Trò chuyện xưng hô với sự vật “tao – mày”, câu hỏi “Đã ngủ rồi hả trầu?”.
  • Sử dụng từ chỉ hành động của con người để chỉ vật “ngủ”.

Câu 7. Lao xao ngày hè, Thương nhớ bầy ong, Đánh thức trầu đều viết về tuổi thơ tác giả gắn với cây cối, loài vật. Cả ba văn bản đều sử dụng biện pháp nhân hoá. Theo em, vì sao như vậy?

Gợi ý:

– Cả ba văn bản đều sử dụng biện pháp nhân hoá vì các tác giả đã gọi, tả các loài vật, cây cối bằng những từ gọi, tả người và miêu tả về các loài vật, cây cối sinh động như nói về con người.

Câu 8. Viết đoạn văn (khoảng 150 đến 200 chữ) nói về đặc điểm riêng của một cây hoa hoặc một con vật mà em yêu thích. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một trong số các biện pháp ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ.

Gợi ý:

Trong cuộc sống, vật nuôi gia đình đã trở nên rất phổ biến và trở thành một thành viên quan trọng. Nhà tôi cũng có một con vật nuôi đó là chú chó và tôi xem chú như bạn. Chú chó ấy có một bộ lông vàng óng như những tia nắng hè ngày đẹp trời và bố tôi đã gọi chú bằng cái tên gần gũi: Vàng. Trông chú khá lùn và mập nhưng rất đáng yêu và biết nghe lời. Đôi mắt của Vàng đã ngả sang màu gỗ nâu vì chú đã già theo năm tháng. Cứ mỗi lần có người đi ngang qua, đôi tai Vàng vểnh lên, người bật dậy đứng lên để xem xét tình hình và bảo vệ căn nhà của chúng tôi. Lúc đó trông chú oai hùng như một người lính canh gác trung thành. Còn khi thấy bố mẹ hay tôi đi đâu về chú lại mừng rít lên như một đứa trẻ, cái đuôi vẫy loạn lên rồi nhảy lên ôm tôi như đã cách xa từ lâu lắm. Tôi rất yêu cậu Vàng bé nhỏ của nhà tôi, tôi mong rằng Vàng sẽ sống khỏe mạnh để bầu bạn với tôi và tạo những niềm vui cho cả gia đình.

Chú thích:

– Nhân hóa: gọi chó là “chú”, “cậu”.

– Hoán dụ: dùng “nhà tôi” để chỉ những người sống trong ngôi nhà.

Trên đây là bài Soạn văn 6 Thực hành Tiếng Việt (Bài 5) tóm tắt. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm bài soạn chi tiết Thực hành Tiếng Việt (Bài 5).

Đăng bởi: Quà Yêu Thương

Chuyên mục: Lớp 6

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button